Đời sống
Thứ hai, 18/6/2012 6:00 GMT+7

Ai hơn…ai?

Bản in ấn Email
Cỡ chữ
Những chỉ số cho thấy ĐHQGTP HCM có đầu ra (ấn phẩm khoa học) lớn hơn, nội lực cao hơn, chất lượng nghiên cứu xuất sắc hơn, và tầm ảnh hưởng cao hơn ĐHQG HN. Tuy nhiên, cả 2 ĐHQG Việt Nam đều còn quá thấp khi so với ĐH Chulalongkorn.

Trong bài Đại học Quốc gia Hà Nội: 8 năm nữa có lọt top "200"? (Tuần Việt Nam, ngày 15/6), tôi đã so sánh năng lực nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN và ĐH Chulalongkorn, cho thấy ĐH Việt Nam đang thua kém họ như thế nào. Bài này sẽ so sánh ĐHQGTP Hồ Chí Minh và ĐHQGHN. Có những dữ liệu làm tôi ngạc nhiên, và chắc các bạn cũng giật mình ...

ĐHQG TP.HCM và ĐHQGHN là hai ĐH lớn nhất của Việt Nam, nhưng ĐHQG TP. HCM về qui mô lớn hơn ĐHQGHN. Số trường thành viên của ĐHQGTP.HCM (7 trường và khoa y) nhiều hơn ĐHQG HN (6 trường và 5 phân khoa).

Về số sinh viên, ĐHQG TP.HCM có khoảng 54 ngàn sinh viên (trong thực tế trên 100 ngàn, tính cả hệ tại chức, từ xa). ĐHQGHN cũng có số sinh viên khá lớn: 44 ngàn, với gần 15% là "hậu cử nhân". Tuy nhiên, số giáo sư và phó giáo sư của ĐHQGHN (296) cao hơn số ở ĐHQGTP.HCM khoảng 55% (Bảng 1).

Bảng 1: Vài dữ liệu cơ bản về sinh viên, và đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu

 

ĐHQGTP.HCM

ĐHQGHN

Số sinh viên (2010)

  • Cấp cử nhân

 

  • Hậu cử nhân

54065

46621

6399

44061

37674

6387

Tổng số nhân viên

  • Số giảng dạy

 

  • Số nghiên cứu

4545

2595

450

5421 (a)

 

Số GS/PGS

190

296

Số nhân viên với học vị tiến sĩ

726

686

Số nhân viên với học vị thạc sĩ

1393

?

(a) Bao gồm 3426 cán bộ viên chức và 1995 cán bộ khoa học.

Sáu chỉ tiêu đánh giá

So sánh năng lực khoa học giữa các trường là điều không dễ dàng. Khó khăn đầu tiên là tìm ra những chỉ tiêu hợp lí để dựa vào đó mà so sánh. Vấn đề kế tiếp là dùng thước đo nào cho những chỉ tiêu đó. Dù có chỉ tiêu và thước đo, thì khó khăn thứ ba là làm sao đánh giá được trọng số của mỗi chỉ tiêu.

Sáu chỉ tiêu đó có thể mô tả như sau:

Chỉ tiêu 1 là đầu ra (output). Chỉ tiêu này được đo lường bằng số lượng ấn phẩm được công bố trên các tập san khoa học có bình duyệt (peer reviewed journals). Vì là cơ sở dữ liệu của Scopus, nên số ấn phẩm có phần cao hơn so với con số của Web of Science.

Số ấn phẩm khoa học có khi phản ảnh số lượng giảng viên hay nhà nghiên cứu của 1 ĐH chứ cũng không hẳn nói đến năng suất hay năng lực của 1 trường. Tuy nhiên, nếu 2 trường có cùng số nhân viên giảng dạy và nghiên cứu thì số ấn phẩm khoa học cũng có thể phản ảnh năng suất khoa học.

Chỉ tiêu 2 là hợp tác quốc tế. Chỉ tiêu này được đo lường bằng phần trăm ấn phẩm khoa học có địa chỉ nước ngoài hay tác giả nước ngoài. Hợp tác nghiên cứu với đồng nghiệp quốc tế cũng phản ảnh một phần tính "quốc tế hoá" của trường ĐH. Nhưng nếu trong số ấn phẩm khoa học có quá nhiều hợp tác quốc tế (như trên 70% chẳng hạn) thì điều này có thể phản ảnh năng lực nghiên cứu còn thấp và phải lệ thuộc vào đồng nghiệp nước ngoài.

Chỉ tiêu 3 là tính tập trung (specialization). Một ĐH có thể nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh vực (phản ảnh qua số bài báo), hoặc tập trung vào một số chuyên ngành chính. Chỉ số này phản ảnh mức độ tập trung. Chỉ số có giá trị từ 0 (thế mạnh trong nhiều lĩnh vực) đến 1 (chỉ tập trung trong vài lĩnh vực khoa học).

Chỉ tiêu 4 là chất lượng tập san. Trong mỗi ngành có nhiều tập san, và thứ hạng cũng khác nhau. Những tập san nằm trong nhóm 1 của bách phân vị (tức hàng đầu 25%) được xem là tập san top25. Chỉ tiêu này là phần trăm những bài báo của trường được công bố trên những tập san top 25. Dĩ nhiên, trường có chỉ số top 25 càng cao cũng có nghĩa là uy tín trong khoa học càng lớn.

Ai hơn&ai?
Đại học Quốc gia Tp. HCM

Chỉ tiêu 5 là tính xuất sắc. Chỉ tiêu này thật ra phản ảnh một phần về chất lượng nghiên cứu khoa học. Khi bài báo được công bố và nếu có ích thì đồng nghiệp sẽ trích dẫn. Có những bài báo được trích dẫn nhiều lần, nhưng cũng có bài không bao giờ được trích dẫn.

Có thể chia tần số trích dẫn thành 10 nhóm, từ nhóm 1 (top 10% được trích dẫn nhiều nhất) đến nhóm 10 (bottom 10% được trích dẫn ít nhất hay không ai trích dẫn). Bài báo xuất sắc là bài báo nằm trong nhóm top 10% được trích dẫn. Do đó, tính xuất sắc là tỉ lệ (hay phần trăm) những bài báo có tần số trích dẫn nằm trong nhóm top 10%.

Chỉ tiêu 6 là tầm ảnh hưởng chuẩn hoá (normalized impact - NI). Đây là chỉ số quan trọng phản ảnh tầm ảnh hưởng của trường đến cộng đồng khoa học thế giới. Chỉ số trích dẫn dao động rất lớn giữa các quốc gia và các trường trong mỗi quốc gia, nhưng có thể tính được chỉ số trích dẫn trung bình (toàn thế giới) cho từng lĩnh vực nghiên cứu.

Nếu chỉ số trích dẫn của trường thấp hơn chỉ số trung bình thế giới, thì điều này phản ảnh tầm ảnh hưởng của trường thấp hơn trung bình. Ngược lại, nếu chỉ số trích dẫn của trường cao hơn chỉ số trích dẫn trung bình thế giới thì điều này cũng có nghĩa là tầm ảnh hưởng của trường cao hơn trung bình.

Do đó, chỉ số NI dao động trên hoặc dưới con số 1. Nếu trường có chỉ số NI là 0.8 thì điều này có nghĩa là tần số trích dẫn của trường thấp hơn trung bình thế giới 20%.

So sánh

Các chỉ tiêu trên cho 2 ĐH- ĐHQGTP.HCM và ĐHQGHN được trình bày trong Bảng 2 dưới đây. Dữ liệu trích từ báo cáo năm 2011 của Nhóm SCImago. Để tham khảo thêm, tôi cũng trình bày số liệu của ĐH Chulalongkorn. Một số dữ liệu chính như sau:

- Trong thời gian 2005-2009, ĐHQGTP.HCM công bố được 569 bài báo khoa học trên các tập san trong hệ thống Scopus. Con số này cao hơn ĐHQGHN 37%. Tuy nhiên, số ấn phẩm của cả 2 ĐH đều rất thấp, chưa bằng 1/10 số ấn phẩm của Chulalongkorn.

- Hơn phân nửa những bài báo của ĐHQGTP.HCM là có hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, trong khi gần 2/3 các bài của ĐHQG-HN có hợp tác với nước ngoài. Nếu xem không hợp tác với ngoài là một nội lực thì  ĐH Chulalongkorn có vẻ có nội lực khoa học (hay độc lập) cao hơn 2 ĐHQG của Việt Nam;

- Chỉ số tập trung của ĐHQGTP.HCM là 0.9, cao hơn ĐHQGHN (0.8). Điều này có lẽ cũng đúng với thực tế, vì nhiều ấn phẩm khoa học của ĐHQGTP. HCM chỉ tập trung vào 2 lĩnh vực chính là kĩ thuật (engineering) và toán. Trong khi đó ĐHQGHN tập trung vào 3 lĩnh vực chính là toán, vật lí, và khoa học vật liệu. Riêng ĐH Chulalongkorn có chỉ số tập trung chỉ 0.6 vì ĐH này phát triển đồng đều giữa hoá học, khoa học vật liệu, kĩ thuật, y khoa, công nghệ sinh học, vật lí, v.v.;

- Khoảng 27% những bài báo của ĐHQGTP.HCM được công bố trên những tập san thuộc hạng "top 25", và con số này thấp hơn ĐHQGHN (33%). Về chỉ số này, cả 2 ĐHQG đều thấp hơn ĐH Chulalongkorn (gần 40%).

- Tuy nhiên, về chỉ số xuất sắc thì ĐHQGTP. HCM cao hơn ĐHQGHN, nhưng thấp hơn ĐH Chulalongkorn. Khoảng 7% số bài báo của ĐHQGTP.HCM nằm trong nhóm được trích dẫn nhiều nhất (top 10%), và tỉ lệ này cho ĐHQG HN chỉ là 5.3%. Riêng ĐH Chulalongkorn có gần 10% công trình nằm trong nhóm được trích dẫn nhiều nhất.

- ĐHQGTP.HCM có chỉ số ảnh hưởng cao hơn ĐHQGHN. Thật vậy, chỉ số trích dẫn trung bình của ĐHQGTP.HCM cao hơn chỉ số trung bình thế giới khoảng 10%. Ngược lại, chỉ số trích dẫn của ĐHQGHN thấp hơn trung bình thế giới khoảng 10%, tương đương với ĐH Chulalongkorn

Bảng 2: Chỉ tiêu về năng lực khoa học và tầm ảnh hưởng của ĐHQGTP.HCM, ĐHQGHN, và ĐH Chulalongkorn

Chỉ tiêu

ĐHQGTP.HCM

ĐHQGHN

ĐH Chulalongkorn

Ấn phẩm khoa học

569

414

6047

% hợp tác quốc tế

53.6

66.9

36.5

Chỉ số tập trung

0.9

0.8

0.6

% trên các tập san "top 25"

26.9

32.9

39.2

Chỉ số xuất sắc

7.2

5.3

9.9

Chỉ số ảnh hưởng (c)

1.1

0.9

0.9

Với 3045 giảng viên và nhà nghiên cứu, ĐHQGTP.HCM "sản xuất" được 569 bài báo trong 5 năm. Tính trung bình, 5 người sản xuất được 1 bài báo trong vòng 5 năm. Nói cách khác, năng suất là 1 cán bộ giảng dạy hoặc nghiên cứu cần 5 năm để công bố 1 bài báo khoa học.

Năng suất khoa học của ĐHQGHN cũng tương tự (1 công trình trong 5 năm cho mỗi cán bộ khoa học). Ở ĐH Chulalongkorn, năng suất trung bình là mỗi giảng viên công bố 1 bài trong 2 năm, tức cao hơn 2 ĐHQG hơn 2 lần.

Xếp hạng

Theo bảng xếp hạng của SCImago năm 2011, ĐHQGTP.HCM được xếp hạng cao nhất ở Việt Nam.

Thật vậy, theo báo cáo "SCImago Institutions Rankings World Report 2011", trong số 3042 trường ĐH, viện, và tổ chức nghiên cứu trên toàn thế giới, 2 ĐHQG và Viện Khoa học Công nghệ có tên trong bảng xếp hạng (Bảng 3).

Tính theo chỉ tiêu xuất sắc, ĐHQGTP.HCM được xếp hạng 1 trong nước, kế đến là Viện KH-CN, và sau cùng là ĐHQG HN. Tuy nhiên, trong vùng Á châu thì ĐHQGTP.HCM được xếp hạng 415/798, cao hơn ĐHQGHN trên 100 (hạng 531/798). Trong số 3042 trường/viện/trung tâm trên thế giới, ĐHQGTP.HCM được xếp hạng 2228, ĐHQGHN hạng 2522.

Trong bảng xếp hạng của SCImago, Thái Lan có 16 trường/viện trong danh sách. Những ĐH hàng đầu của Thái Lan là Mahidol (hạng 116 trong vùng và 1277 trên thế giới), Chulalongkorn (278 / 1838), Thái tử Songkla (287 /1865), Chiang Mai (290 / 2871), và Khon Kaen (297/1892). Tất cả ĐH của Thái Lan đều có hạng cao hơn 2 ĐHQG Việt Nam.

Bảng 3: Xếp hạng trong nước, trong vùng và trên thế giới

Trường

Hạng trong nước

Hạng trong vùng

Hạng trên thế giới

ĐHQGTP.HCM

1

415

2228

ĐHQGHN

3

531

2522

Viện Khoa học Công nghệ

2

485

2399

ĐH Chulalongkorn

6

278

1838

ĐH Mahidol

2

116

1277

ĐH Chiang Mai

8

290

1871

ĐH Prince Songkla

7

287

1865

ĐH Khon Kaen

9

297

1892

Nguồn: SCImago Institutions Rankings 2011 (Excellence Rate Report).

Như đề cập ngay từ đầu, đánh giá và xếp hạng các trung tâm nghiên cứu hay trường ĐH là việc làm không dễ, mà có khi còn mang tính mạo hiểm. Định lượng số ấn phẩm tưởng rất đơn giản, nhưng trong nhiều trường hợp lại không đơn giản chút nào, nhất là trong trường hợp Việt Nam.

Vấn đề là các tác giả Việt Nam thường viết tên ĐH rất đa dạng, và cách viết đó có thể ảnh hưởng đến số lượng ấn phẩm của một trường. Tuy nhiên, một điều may mắn là mức độ ảnh hưởng không cao, nên cũng không gây tác động đáng kể đến việc so sánh và xếp hạng giữa các trường.

Đo lường phẩm chất lại càng phức tạp hơn, vì khái niệm "quality" hay "phẩm chất" không phải và không thể đơn giản hoá thành một chỉ số. Vì phải dùng đến nhiều chỉ số, và vấn đề nảy sinh là cách cho trọng số của từng chỉ số. Chính vì thế mà trong bảng xếp hạng trên, tôi chỉ chọn chỉ tiêu "xuất sắc trong nghiên cứu" làm thước đo để xếp hạng.

Tuy nhiên, trong trường hợp so sánh giữa ĐHQGTP.HCM và ĐHQG HN thì dù dùng chỉ tiêu nào (trong số 6 chỉ tiêu) vẫn không thay đổi vị trí tương đối của hai ĐH.

Tóm lại, những chỉ số trên đây cho thấy ĐHQGTP HCM có đầu ra (ấn phẩm khoa học) lớn hơn, nội lực cao hơn, chất lượng nghiên cứu xuất sắc hơn, và tầm ảnh hưởng cao hơn ĐHQG HN. Tuy nhiên, cả 2 ĐHQG Việt Nam đều còn quá thấp khi so với ĐH Chulalongkorn. Dựa vào các chỉ tiêu khách quan này, có thể xem ĐHQGTP.HCM là ĐH số 1 của Việt Nam.

 



TIN ẢNH
(Tamnhin.net) - Dưới đây là những siêu phẩm di động mà Google xác nhận sẽ được cập nhật phiên bản mới nhất Android 4.1, sự kết hợp nâng cao từ sự tiện dụng và vẻ đẹp của Ice Cream Sandwich, nhằm mang lại một trải nghiệm tìm kiếm hoàn toàn mới không thể bỏ qua.